Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

IV. Hỗ Trợ Cai Thuốc Lá

                    THÀNH CÔNG = HIỂU BIẾT + QUYẾT TÂM + HỖ TRỢ
IV. HỖ TRỢ:

1. Hỗ trợ cai thuốc lá là gì:
a. Là những động thái thực hiện để giúp người nghiện thuốc lá bỏ thuốc. Lẽ dĩ nhiên mức độ hỗ trợ càng cao, càng chuyên nghiệp thì người nghiện hút thuốc lá càng có cơ hội cai thuốc lá được thành công hơn.
b. Vì là hỗ trợ nên các biện pháp này không thể nào thay thế được quyết tâm cai thuốc lá của người nghiện thuốc lá. Một số người nghiện thuốc lá tin tưởng rằng có một loại thuốc, một kỹ thuật thần kỳ nào đó có thể giúp họ từ một người hôm qua còn nghiện thuốc lá nặng hôm nay trở thành người không còn nghiện nữa - thậm chí chưa bao giờ hút thuốc lá. Đó là một tin tưởng hoàn toàn sai lầm. Và các biện pháp hỗ trợ cai thuốc lá dù là biện pháp tốt nhất cũng không bao giờ là một “phép lạ” cả.
c. Tuy nhiên, nếu các biện pháp hỗ trợ không thể thay thế cho quyết tâm cai thuốc lá thì nó lại có thể làm quyết tâm này mạnh mẽ lên, duy trì được quyết tâm ở mức độ cao. Tuy rằng biện pháp hỗ trợ không thay thế cho hiểu biết nhưng có thể giúp hiểu biết ngày càng mạnh mẽ hơn. Như vậy, các biện pháp hỗ trợ có vai trò bổ túc trong công thức thành công cai nghiện thuốc lá.
2. Hỗ trợ thuốc lá có những biện pháp nào theo tổ chức y tế thế giới (W.H.O)?
a. Biện pháp không dùng thuốc:
Còn được gọi là biện pháp tư vấn giúp điều chỉnh nhận thức - chuyển đổi hành vi. Biện pháp này được xem là biện pháp cơ bản trong hỗ trợ cai nghiện thuốc lá. Quá trình này gồm nhiều giai đoạn liện tục với nhau tùy vào hiểu biết cũng như quyết tâm của người cai thuốc lá. Mục tiêu của biện pháp này là thúc đẩy người cai thuốc lá trưởng thành hơn nữa trong chu trình trưởng thành quyết tâm cai thuốc lá.
Bước đầu tiên, người nghiện thuốc lá được trang bị thông qua tư vấn các hiểu biết đúng đắn và đầy đủ về tác hại sức khỏe khi hút thuốc lá, về lợi ích cho sức khỏe khi ngưng hút thuốc lá. Những kiến thức này giúp một người hút thuốc lá trong giai đoạn “thờ ơ” có những ý định ban đầu về nhu cầu cần phải cai thuốc lá.
Bước thứ hai, người “có ý định” được tư vấn về cơ chế gây nghiện, các phương pháp giúp họ thoát khỏi cơn nghiện thuốc lá, cách cân nhắc cái được và mất khi hút thuốc lá hoặc khi cai thuốc lá. Trên cơ sở đó, quyết tâm cai nghiện thuốc lá được củng cố. Người nghiện thuốc lá ở giai đoạn “có ý định” như vậy đã bước sang giai đoạn “chuẩn bị”.
Bước thứ ba, người cai thuốc lá ở trong giai đoạn “chuẩn bị” được tư vấn các kiến thức, kỹ năng khống chế cơn nghiện, đối phó cơn thèm thuốc, phòng tránh “cám dỗ” tái nghiện. Như vậy, người cai thuốc lá ở giai đoạn “chuẩn bị” đã chuyển sang giai đoạn cai thuốc lá.
Bước thứ tư, tư vấn về những tình huống dễ dẫn đến tái nghiện sẽ được tư vấn, cách xử trí như thế nào trong từng tình huống cụ thể được đưa ra, nguyên nhân tái nghiện thường gặp cũng được phân tích và lên kế hoạch xử trí. Người cai thuốc lá trong giai đoạn củng cố sẽ được hỗ trợ như vậy.
Bước thứ năm, khi người cai thuốc lá tái nghiện, họ sẽ được tư vấn và phân tích lý do tái nghiện, họ được động viên khuyến khích để cai nghiện trở lại. Và tiếp tục như vậy. Cho đến một thời điểm nào đó người nghiện thuốc lá sẽ cai thuốc lá được hoàn toàn hay đi vào giai đoạn thành công.
Biện pháp tư vấn như vậy tác động được trong tất cả các giai đoạn của quá trình trưởng thành quyết tâm cai thuốc lá, giúp tăng cường hiểu biết và quyết tâm vì thế là thành phần then chốt trong công thức thành công cai thuốc lá.
b Biện pháp dùng thuốc:
- Là các biện pháp dùng thuốc tác động vào làm giảm nhẹ đi những khó chịu xuất hiện trong quá trình cai thuốc lá. Và như vậy các biện pháp này có chỉ định phối hợp với biện pháp tư vấn trong cho trường hợp người cai thuốc lá ở trong giai đoạn cai thuốc lá và giai đoạn củng cố. Ở đây cần nhấn mạnh một điểm là chúng chỉ là biện pháp hỗ trợ phối hợp chứ không thể thay thế cho biện pháp tư vấn được.
- Các biện pháp dùng thuốc được tổ chức y tế thế giới khuyến cáo sử dụng gồm có ba biện pháp: nicotin thay thế (miếng dán, viên nhai, ống hít); bupropion hydrochloride (viên uống), varenicilline. Hiện nay ở Việt Nam đã nhập khẩu và lưu hành chính thức dạng thuốc bupropion hydrochloride - NICOSTOP. Nicotin thay thế dạng miếng dán (NICORETTE), viên nhai (NICORETTE, NIQUITIN) đều có thể mua được trên thị trường nhưng chưa được nhập chính thức. Varenicilline thì chưa thấy xuất hiện trên thị trường Việt Nam.
- Cơ sở khoa học của các thuốc này là giúp cơ thể giảm bớt các khó chịu gây ra bởi hội chứng cai thuốc khi bệnh nhân cai bỏ thuốc lá. Các biện pháp này đã được chứng minh là tăng gấp đôi tỷ lệ thành công bỏ thuốc lá ở ngừơi nghiện thuốc lá có quyết tâm cai thuốc lá.
3. Sử dụng bupropion hydrochoride trong hỗ trợ cai nghiện thuốc lá như thế nào?
a. Lịch sử:
- Bupropion hydrochloride (ZYBAN, NICOSTOP) ban đầu được sử dụng trong mục đích chống trầm cảm. Tuy nhiên, đây không phải là thuốc chống trầm cảm được ưu tiên chọn lựa vì hiệu quả chống trầm cảm thấp.
- Tuy nhiên, người ta ghi nhận được có một tỷ lệ cao những người trầm cảm + nghiện thuốc lá lại có thể bỏ thuốc lá một cách tự nhiên khi sử dụng bupropion hydrochloride như là thuốc điều trị trầm cảm cho bệnh trầm cảm của mình.
- Người ta tiến hành nghiên cứu khảo sát vai trò của bupropion hydrochloride trong điều trị hỗ trợ cai nghiện thuốc lá cho thấy: bupropion hydrochloride có khả năng tăng gấp đôi tỷ lệ cai nghiện thuốc lá thành công sau 12 tháng so với giả dược, hơn nữa lại còn hạn chế được tác dụng phụ tăng cân khi cai thuốc lá.
- Cùng với nicotin thay thế, bupropion hydrochloride được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là thuốc giúp hỗ trợ cai nghiện thuốc lá và khuyến cáo sử dụng rộng rãi cho công tác này trên phạm vi toàn thế giới.
Công thức hóa học:
 
b Cơ chế tác dụng của thuốc:
Cơ chế tác dụng của bupropion hydrochloride chưa thực sự rõ ràng, người ta biết rằng bupropion hydrochloride giúp cai nghiện thuốc lá không nhờ vào tác dụng chống trầm cảm và chỉ bupropion hydrochloride có thể hỗ trợ cai thuốc lá còn các thuốc chống trầm cảm khác thì không.
Cơ chế hiện tại được chấp nhận là tác dụng của bupropion hydrochloride:
Thụ thể dopamin:
- Ức chế bắt giữ một phần dopamin.
- Tăng nồng độ dopamin ngoại bào nhân hải mã.
Thụ thể noradrenaline:
- Ức chế bắt giữ mạnh.
- Tăng mức độ tập trung.
- Giảm độ nặng của hội chứng cai nghiện.
Thụ thể nicotine: Cạnh tranh với nicotine
c. Chỉ định - chống chỉ định:
Chỉ định:
- Người hút thuốc lá nghiện thuốc lá thực thể - lệ thuộc nicotin.
- Có quyết tâm cai thuốc lá cao.
Chống chỉ định:
- Dị ứng với các thành phần của thuốc.
- Động kinh họăc có tiền căn động kinh.
- U não.
- Đang điều trị cai nghiện rượu hoặc thuốc ngủ.
- Rối loạn tâm thần ăn nhiều, uống nhiều., Rối loạn tâm thần hưng - trầm cảm.
- Đang dùng thuốc hướng thần nhóm IMAO.
- Suy chức năng gan nặng.
d. Liều lượng và thời gian điều trị:
Tổng thời gian điều trị là 7 - 9 tuần.
Trong tuần đầu tiên, bệnh nhân uống 1 viên bupropion hydrochloride hàm lượng 150 mg. Trong tuần này nếu không nhịn hút thuốc lá được bệnh nhân có thể hút thuốc lá.
Từ tuần lễ thứ 2 - 9, bệnh nhân uống 2 viên một ngày cách nhau 8 giờ, viên thứ hai uống trước 18 giờ chiều.
Không vượt quá liều 300mg/ ngày, giảm liều còn 150 mg/ ngày trong các trường hợp:
- Sử dụng kèm thuốc giảm ngưỡng động kinh.
- Nghiện rượu.
- Tiền căn chấn thương sọ não.
- Đang điều trị thuốc viên hạ đường huyết, insulin.
- Đang dùng thuốc gây hưng cảm hoặc thuốc gây chán ăn.
e. Tác dụng phụ: Khô miệng, Mất ngủ, Nhức đầu, Phản ứng dị ứng.
f. Qui trình điều trị:
* Chọn lựa bệnh nhân:
- Bệnh nhân nghiện thuốc lá thực thể và có quyết tâm cao cai thuốc lá.
- Không có chống chỉ định dùng bupropion hydrochloride.
- Lịch tái khám khi đang dùng thuốc: 1 tuần, 3 tuần, 6 tuần, 10 tuần.
* Theo dõi sau ngưng thuốc:
- Bệnh nhân sẽ ngưng thuốc sau 9 tuần.
- Theo dõi tiếp tục mỗi 1 - 3 tháng cho đến 1 năm.
- Trong quá trình này điều trị nhận thức - chuyển đồi hành vi luôn đi kèm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét