Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

Lý thuyết "Nhân cách con người" của S. Freud

Freud
1. Tiểu sử tác giả
Cho đến ngày nay mặc dù lý thuyết về phân tâm học của ông còn gây nhiều tranh cãi và người ta còn đang so sánh hiệu quả của các phương pháp phân tâm học của ông với các phương pháp điều trị khác, nhưng cũng phải thừa nhận rằng ông là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ 20.
Cuộc đời Freud cũng mâu thuẫn như thuyết của ông. Ông sinh ngày 6/5/1856 tại Freiberg thuộc Đức, nay là Pribor thuộc Cộng hoà Séc. Bố ông là một người Do thái buôn vải nhưng không có nhiều vốn, chỉ sau 1860, khi gia đình rời về Viên, kinh tế gia đình mới khá giả hơn. Vì truyền thống gia đình là không trọng tín ngưỡng nên ngay từ thời trẻ, Freud đã là một người vô thần nhiệt thành. Chỉ khi ở Đức dấy lên phong trào chống Do Thái, vào năm 1962 ông mới tuyên bố: “Ngôn ngữ, văn hoá, giáo dục của tôi đều là Đức, tôi luôn coi mình là người Đức, chỉ có điều bây giờ ở Đức có phong trào bài Do Thái, tôi mới tự nhận mình là người Do Thái mà thôi”.
Ông học giỏi ngay từ nhỏ, rồi khi học đại học (Đại học Tổng hợp Viên 1873, đầu tiên học luật, sau học y), ông vẫn luôn là sinh viên giỏi. Từ  môn Y, ông đi sâu vào tâm linh, rồi sau mở được phòng mạch riêng về ngành này.
Năm 1886, ông lập gia đình. Trong quá trình làm việc ở phòng mạch của mình, ông cố gắng tìm hiểu bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân cũ với các giấc mơ của họ. Ông nghiên cứu ý nghĩa của nó, dùng phân tâm học để giải thích giấc mơ và hiểu bệnh thần kinh phân lập.
Năm 1900, ông công bố một trong các tác phẩm đầu tay của mình: “Sự giải thích các giấc mơ” và lấy đó làm khuôn mẫu để giải thích giấc mơ theo góc độ phân tâm học, rồi điều trị các chứng bệnh phân liệt.
Vào những năm 90 của thế kỷ XIX, ông đã phát hiện rằng: những ham muốn và lo hãi tình dục có thể ảnh hưởng đến bệnh tình của bệnh nhân; thậm chỉ ông còn lập giả thiết rằng, việc lạm dụng tính dục trẻ em gây ra bệnh tâm thần phân liệt. Nhưng ông phải từ bỏ giả thiết này, đây cũng là thất bại của ông, nhưng ông cố gắng tìm ra cái mới. Ông lấy những người tiên phong là Montaigne, Rousseau, Goethe… nhưng Freud là người đi xa nhất trong việc kiểm nghiệm chính bản thân mình, vì ông làm việc một cách rất có hệ thống. Kết quả cho sự phân tích này cũng chính là những thất bại của bản thân ông: Các giấc mơ, các bước tư duy mập mờ nhất của ông.
Tác phẩm đầu tay này cũng là một trong những cuốn quan trọng nhất, dù khi đó ông đã là một nhà thần kinh học nổi tiếng.
Năm năm sau, cuốn tiếp theo về phân tâm học: “Ba luận văn về lý thuyết tình dục” cũng là đề tài đã được ông theo đuổi từ lâu. Sách được tái bản nhiều lần, lần nào cũng có bổ sung, chỉnh lý. Ông giải thích các “sai lệch” không qua góc độ đạo đức học, mà đưa nó vào các thành phần của đời sống tình dục “bình thường”. Đó cũng là cái giá mà Freud trả cho dục năng (libido). Kể từ đó, ông không còn sao nhãng các đề tài tình dục nữa.
Cũng vào lúc này, Freud bắt đầu có các môn đệ. Họ tụ tập lại để thảo luận về các ý tưởng của Freud dựa trên những giải thích cho các tiểu thuyết, và những nghiên cứu các ca lâm sàng. Từ đấy, ông cũng đưa ra các nghiên cứu những ca lâm sàng trên chính bản thân ông. Năm trong số các trường hợp này - dĩ nhiên phải kể cả trường hợp Dora, hay “kết cục dang dở của một phân tích về hystery” - cho đến hôm nay vẫn được coi là mẫu mực và được thảo luận rất kỹ ở mọi viện nghiên cứu về phân tâm học. Ông nỗ lực ứng dụng phân tâm học như một ngành của tâm lý học đại cương. Cũng vậy, số môn đệ của ông lan ra toàn thế giới, đặc biệt là Anh, Mỹ Thuỵ Sỹ… và đã đến thời điểm phải tổ chức hội thoả và phát hành các tạp chí.
Nhưng ngay trước thế chiến II, nhiều môn đệ của Freud đã tách khỏi ông và lập trường phái riêng cho mình. Trong số đó, nổi tiềng nhất là vị bác sĩ ở Viên và cũng là người theo Phái chủ nghĩa xã hội Alfred Adler. Với “Tâm lý học cá thể” đầy lạc quan của mình, Adler chống lại ý nghĩa trung tâm của Freud về tình dục và tính hung bạo gắn với bản năng. Còn nhà tâm lý trị liệu học Zuyrich Carl Gustav Jung lại lấy khát vọng của con người để tiến tới sự hoà trộn với một cái “siêu bản ngã” làm tiêu điểm cho “Liệu pháp phân tích” của riêng ông. Freud không tiếc Adler, nhưng sự “đảo ngũ” của Jung vào năm 1912 là một tổn thất nặng nề, hết sức bi ai đối với ông, bởi vì Freud đã coi ông này là “Thái Tử”, người kế tục chính thức của mình. Cũng còn đặc biệt bởi vì khác với các môn đệ Do Thái của ông ở thành Viên, Carl Gustav Jung không phải là người Do Thái nên Freud rất coi trọng ông này để khoa học tâm linh của ông không bi coi thường đến mức là một ngành khoa học Do Thái. Nhưng ông cũng khó hy vọng rằng, ngay trong lĩnh vực nan giải nhất của nghiên cứu tâm linh - nơi người ta có thể thảo luận không phải giữ ý về những vấn đề riêng tư nhất - mọi việc lại có thể tiến triển một cách hiền hoà!
S. Freud là một trong những nhà khoa học đã sáng tạo nhiều hơn hết trong thời đại của chúng ta. Nhờ ông mà ngày nay chúng ta đã có được những ý nghĩ và giải thích rất khác nhau về chính bản thân mình. Một nhà phê bình đã nhận xét: “Đối với người đời , do sự phổ biến học thuyết phân tâm, Freud đã nổi lên như một kẻ phá bĩnh vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Ông đã biến đổi sự giễu cợt và những niềm vui nhẹ nhàng của con người thành những hiện tượng dồn nén bí hiểm và sầu thảm, đã tìm thấy sự hằn thù trong nguồn gốc yêu thương, ác ý ngay trong lòng sự âu yếm, loạn luân trong tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái, tội lỗi trong thái độ đại lượng và trạng thái của sự căm uất bị ‘dồn nén’ của mọi người cha như là một thứ được lưu truyền của nhân loại”.  Vậy lý thuyết của ông đề cập đến những vấn đề gì ? Nó được vận dụng như thế nào vào công tác tham vấn ?
2. Khái quát lý thuyết
Quan niệm của Freud về cấu trúc nhân cách – bản năng, bản ngã, siêu ngã
Theo S.Freud quan niệm cấu trúc nhân cách gồm 3 bộ phận: bản năng (id), bản ngã (ego) và siêu ngã (super ego)
- Bản năng là phần ban sơ của nhân cách, là phần chúng ta có chung với loài vật. Đó là nơi của những bản năng và hoạt động trên nguyên tắc khoái lạc (hay nguyên tắc thoả mãn).
- Bản ngã duy trì sự cân bằng giữa bản năng và siêu ngã. Khi 1 người đói, người ấy sẽ thoả mãn bằng cách thức xã hội chấp nhận, bằng cách mà xã hội không chấp nhận như là ăn cắp thực phẩm của người khác. Nếu không có siêu ngã kiểm tra hành vi của con người thì thực phẩm kia sẽ đánh cắp ngay.
- Siêu ngã hình thành giá trị cá nhân, những quy tắc đạo đức và những điều được xem là đúng và sai.
Bản ngã và siêu ngã hình thành theo suốt tiến trình phát triển con người. Bản ngã có những chức năng khác nhau: chế  ngự ham muốn bât hợp lý, chấp nhận sự thất vọng, trì hoãn sự hài lòng, xử lý sự căng thẳng thần kinh, kiểm tra thực tế.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
Một nhân cách phát triển đúng đắn có sự hoạt động cân bằng của 3 hệ thông: bản năng, bản ngã và siêu ngã. Một nhân cách thực hiện chức năng đầy đủ có nghĩa là đáp ứng đầy đủ các nhu cầu, thích nghi với hoàn cảnh. Tuy nhiên, có những trở ngại đối với việc thực hiện đầy đủ chức năng của nhân cách.
- Xã hội hoá nhân cách là yếu tố quyết định vì hầu hết những chức năng phát triển của bản ngã phát triển thông qua tiến trình xã hội hoá tại gia đình.
- Nếu ai siêu ngã mạnh thì phát triển nhân cách tốt hơn. Nội dung của siêu ngã thay đổi tùy thuộc vào cá nhân, tuỳ thuộc vào giá trị của xã hội và những tập tục nuôi dạy con của bố mẹ. Một người có siêu ngã mạnh có nghĩa là người ấyđược chỉ dẫn bởi từng nguyên tắc và tiêu chuẩn của hành vi. Một siêu ngã mạnh tạo ra suy nghĩ có tội nơi cá nhân một khi hành vi không xảy ra đồng thời với mệnh lệnh của siêu ngã.
Nếu cha mẹ có được siêu ngã phát triển tốt là điều kiện thuận lợi để hoàn thành siêu ngã mạnh mẽ nơi con cái. Ngược lại cha mẹ có khiếm khuyết thì con cái sẽ rất bất lợi.
3. Vận dụng lý thuyết “Nhân cách con người” trong tham vấn
- Trên cơ sở lý thuyết “Nhân cách con người” của S. Freud, Các NTV trong             quá trình làm việc với TC của mình cần nhận biết rằng: khi sự căng thẳng thần kinh xảy ra sẽ gây nên những lo âu hoặc xung đột nội tâm ở họ là do yếu tố bản năng xung động và siêu ngã của họ rơi vào tình trạng mâu thuẫn. Bản năng xung động với sự cố gắng để làm thoả mãn bản năng và các nhu cầu chính yếu có thể dẫn tới những hành vi không thể chấp nhận được của cá nhân.
- Trái lại siêu ngã, như đã khẳng định ở trên là hoàn toàn được giáo dục do đó nó sẽ áp đặt các yêu cầu về chuẩn mực đạo đức lên các hành vi này. Công việc của bản ngã ở đây là thiết lập sự quân bình của cuộc đấu tranh này, như thế là động năng, bản ngã và siêu ngã làm việc với nhau trong sự hợp tác. Công việc của NTV là dùng các kỹ thuật đặc trưng của phân tâm nhằm giúp TC đạt được sức mạnh bản ngã để có thể đạt tới sự quân bình này.
4. Thuyết "Phát triển tâm lý" của Freud
4.1. Khái quát nội dung lý thuyết
Phân tâm học của S.Freud đã xác định đối tượng của nghiên cứu của mình là “vô thức” nó là “tảng băng chìm” là “miền sâu” để giải thích các hiện tượng tâm lý con người.
Trước hết phân tâm học đưa ra quan điểm về vô thức như sau: Vô thức là một thuật ngữ của phân tâm học chỉ phần vô thức của tâm hồn nơi ẩn chứa những cảm nghĩ bị quên lãng, những ý tưởng bị chôn chặt trong vô thức không thể gợi lại hay nhớ lại do ý muốn của cá nhân chúng có thể ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân ấy. Theo lý thuyết phân tâm học, sự phát triển tâm lý của  con người hoạt động theo 3 cấp độ.
tảng băng trôi
1. Ý thức
2. Tiền ý thức
3. Vô thức.
Trí tuệ là khái niệm chứa trong, khái niệm rộng lớn hơn về nhân cách bao gồm hành vi tinh thần, hành vi vận động và hành vi nói năng. Có sự nối kết giữa ý thức – vô thức của tâm hồn và 3 bộ phận trong cấu trúc nhân cách.
- Bản năng, bản ngã và siêu ngã hoạt động trong cả ý thức và vô thức. Cái gọi là lương tâm là bộ phận ý thức của siêu ngã. Hầu hết các chức năng bản ngã hoạt động trong vùng ý thức. Vùng tiền ý thức là kho chứa ký ức, nó chứa đựng những ý tưởng cảm nghĩ và hình ảnh của những biến cố đã qua và chúng có thể được đưa đến vùng ý thức bởi nỗ lực ý chí của con người. ý tưởng cảm nghĩ và hình ảnh được chứa đựng trong vô thức là những thứ đã 1 lần có trong ý thức, bây giờ bị quên lãng và không thể chuyển hoá thành ý thức bằng nỗ lực của ý chí mà có thể chuyển hoá bằng những phương thức của phân tâm học.
Khi một người đang ngủ, ý thức không hoạt động, nhưng vô thức hoạt động, giấc mơ là biểu lộ 1 chút ít nội dung của vô thức. Có người đi đứng hay nói năng trong khi ngủ là họ làm việc đó dưới ảnh hưởng của vô thức.
- Theo Freud, có 2 năng lực đời sống con người:
+ Năng lực tình dục hay dục tính (libido)
+ Tư tưởng thù địch, gây hấn (thể hiện cái tôi)
Đây là những sức mạnh bản năng mà mọi cơ thể sống đều có: Để bảo tồn nòi giống và gữ gìn cái tôi.
Theo Freud, sự  âu lo xuất hiện do các quá trình vô thức. Các diễn biến này có thể xảy ra như là kết quả nỗi sợ hãi của ký ức, có thể do ý thức hoặc vô thức. Các quá trình vô thức khác xảy ra do kết quả xung đột giữa bản năng xung động và siêu ngã. Ví dụ trong thời thơ ấu, bản năng xung động có thể giục đứa bé thoả mãn các thôi thúc tình dục mà siêu ngã coi như điều cấm kỵ. Nếu điều này xảy ra ở cấp vô thức thì đứa bé có thể trở nên âu lo bởi vì bản ngã lúc này không thể giải quyết được tình huống hiện tại. Cũng có những hụt hẫng được cảm nhận dưới áp lực của siêu ngã dẫn bản ngã đến việc thanh toán căng thẳng bằng cách sử dụng các “van xả” khác nhau như một hành vi gây hấn hoặc lẩn tránh vào rượu, ma tuý hoặc hơn nữa là sự chấp nhận các cơ chế tự vệ (còn gọi là các cơ chế phòng vệ, bảo vệ). Các cơ chế phòng vệ đó là như thế nào? chúng được vận dung trong thực hành tham vấn ra sao ?
4.2. Vận dụng thuyết "phát triển lý thuyết" của Freud trong thực hành tham vấn
Theo lý thuyết của S. Freud, khi con người không còn đủ khả năng kiểm soát hữu hiệu một số tình huống của cuộc sống, những cơ chế tự vệ sẽ là những chiến lược cho phép bản ngã bù trừ sự bất lực của mình một cách vô thức, bằng cách làm giảm thiểu stress và sự lo âu kèm theo. Những cơ chế tự vệ này thực tế nhằm tạo cho con người những khoái cảm, đôi khi thực tế nhưng thường là tưởng tượng, hoặc xa vời thực tế hoặc phủ nhận thực tế, các ý nghĩ và các xung lực gây lo âu.
- Sự đè nén (dồn nén): là gạt bỏ, đẩy ra ngoài vòng ý thức những cảm nghĩ hình tượng nếu gợi lên thì khó chấp nhận, không thể chịu được. Nội dung những ý nghĩa hình tượng ấy thường gắn với tình dục hoặc hung tính, không được dư luận xã hội tán thưởng.
Theo tác giả Jo.Godefroid: dồn nén là nén vào vô thức sự ham muốn hoặc tình huống xung đột – một sự quên chủ động vẫn duy trì toàn bộ thế năng động lực xung năng bị dồn nén.
Như vậy chúng ta có thể hiểu sự dồn nén là sự chối bỏ thực tế, là sự cố tình gạt ra ngoài ý thức những ý nghĩ, cảm xúc kinh nghiệm không vui của chúng ta, là sự chối bỏ ham muốn kí ức đau khổ trong quá khứ mà chúng ta không muốn chúng xuất hiện trong tương lai bằng cách tảng lờ chúng, tránh đề cập đến những vấn đề đó, cho rằng chúng không có, chúng ta đã quên chúng. Các TC trong tham vấn rất thường sử dụng cơ chế này. Do đó NTV phải làm thế nào để TC bộc lộ những dồn nén của họ, từ bỏ chúng thì sự thay đổi ở họ mới có thể diễn ra.
- Sự phóng chiếu: “Phóng chiếu là phóng lên, gán cho người khác những tình cảm mà siêu tổng mình không chấp nhận” hoặc “phóng lên, gán cho người khác những cảm xúc, ham muốn mà không thể chấp nhận là chính của bản thân”. Phóng chiếu là một cơ chế tự vệ nhằm giữ thăng bằng cho bản thân. Chúng ta gán cho người khác những ý nghĩ, lỗi lầm của mình, đổ lỗi cho người khác khi chúng ta phạm lỗi, trách người khác về những xu hướng của chúng ta. Phóng chiếu giúp cho chúng ta tránh được sự lo hãi gây ra do sự thừa nhận những ham muốn không thể nói ra của chính mình. NTV phải dùng các kĩ thuật tham vấn để TC chấp nhận mình, thừa nhận trách nhiệm của bản thân trong những tình huống có vấn đề.
-  Sự né tránh: thể hiện là chúng ta không chối bỏ thực tế nhưng chúng ta né tránh sự thật, tưởng tượng sáng tạo và huyễn hoặc về chúng, điều này vượt quá giới hạn sẽ trở thành sự trốn thoát thực tế.
Từ cơ chế  này, trong thực hành tham vấn NTV phải biết kết hợp các kỹ năng tham vấn để giúp TC nhìn nhận vấn đề của mình như nó vốn có để trợ giúp TC đưa ra các biện pháp giải quyết triệt để vấn đề gặp phải.
- Sự đền bù (bù trừ): “là một quá trình tâm lý thúc đẩy một số người muốn khắc phục những yếu kém về thân thể hoặc tâm trí của mình” hoặc dễ hiểu hơn là “khi cảm thấy yếu kém ở một vấn đề hoặc lĩnh vực nào đó, ta sẽ vượt lên ở một cái khác để bù trừ”.
- Sự viện lý: là sự viện lý lẽ không đúng sự thật nhưng có vẻ logic, được xã hội chấp nhận để giải thích, thanh minh cho hành động hay cảm xúc không hay của mình.
-  Sự di chuyển: là chuyển cảm xúc, phản ứng từ đối tượng này sang đối tượng khác nhằm thay thế mục đích ban đầu không thực hiện được bằng một mục đích có thể đạt được
- Sự thoái bộ (thoái lùi): được hiểu là khi được đặt trong một tình huống hẫng hụt, cá nhân bất kể độ tuổi nào đều rơi vào phản ứng như trẻ con hoặc một cách rõ ràng hơn là sự né tránh căng thẳng tức giận bằng những biểu hiện của trẻ thơ như nhõng nhẽo, mút tay, giậm chân, la hét, mách người lớn…
- Đồng nhất hoá: là cơ chế qua đó ta chấp nhận cách thức ứng xử của một người mà chúng ta ngưỡng mộ như một hình mẫu. Cơ chế này giúp chúng ta được người khác chấp nhận khi vào nhóm
-  Sự thăng hoa: là quá trình mà những xung lực bản năng không được thoả mãn trực tiếp đem đầu tư vào những hoạt động được xã hội đề cao như nghệ thuật, khoa học, sự nghiệp xã hội, tôn giáo… ; là một dạng chuyển di mang đến sự thoả mãn thực sự. Đó là sự chấp nhận những ứng xử hướng tới một mục đích cao cả thay cho một mục đích ban đầu không đạt được. Từ đó cá nhân đã lựa chọn một nghề nghiệp mà mình cảm thấy thoải mái, đạt được nhiều thành tựu, được xã hội công nhận, công việc này như mọt thứ thay thế thoả mãn những xung năng bị phong toả ở thời thơ ấu
- Sự huyễn tưởng: Huyễn tưởng theo nghĩa thông thường là những hình ảnh, biểu tượng do trí tưởng tượng tạo ra lúc thức hay ngủ. Huyễn tưởng dành cho những câu chuyện vô thức đặc biệt của thời tấm bé, chủ thể trên cách vượt qua áp lực của thực tế, tạo ra những câu chuyện “hoang đường”, người khác không hết đến nhưng trong quá trình phân tích tâm lý có thể suy ra. Đây là một cơ chế phòng vệ trong quá trình hình thành bản ngã, một cách thoả hiệp giữa bản ngã và các xung lực bản năng và thực tế. Huyễn tưởng là mọt sự chạy trốn thực tế quá khó khăn cần vượt qua trong thế giới hiện thực.
- Sự hợp lý hoá: Là tìm cách lý giải biện minh một hành vi vô lý vô nghĩa, gán cho những động cơ nguyên nhân có vẻ hợp lý là tìm cho một lý do xác đáng để biện minh cho việc không thể tiến hành một ứng xử hoặc ngược lại để giải thích việc chấp nhận một ứng xử không thể chấp nhận được Đây là một cơ chế nhằm che đậy những cảm xúc vô thức, chủ thể không thể không chấp nhận được, nay lý giải như thế nào đã có thể được hiểu, và được chấp nhận, giúp đưa ra lý do bề ngoài có vẻ hợp lý để che dấu lý do, động cơ bên trong.
- Sự phủ định (Cự tuyệt): Là gạt bỏ một ý nghĩa, một biểu tượng và nếu nó xuất hiện thì xem như không phải do bản thân nghĩ đến; là sự thể hiện ngược lại bằng vô thức, từ chối thừa nhận sự tồn tại các sự kiện bằng cách ứng xử của mình.
- Sự hình thành phản ứng: là một cơ chế tự vệ ngược lại ý muốn bị dồn nén, chủ thể có ý muốn một đàng nhưng thể hiện ra ngoài ngược lại. Sở dĩ chúng tôi trình bày rõ ràng các định nghĩa về các cơ chế phòng vệ bởi vì những cơ chế phòng vệ này không chỉ hữu ích trong phương pháp tiếp cận thân chủ theo trường phái phân tâm học mà còn rất hữu ích trong công tác tham vấn nói chung. NTV phải hiểu biết rõ và kỹ càng về các cơ chế này một mặt để phá vỡ cơ chế phòng vệ với TC, mặt khác để cho bản thân không phòng vệ với thân chủ, từ đó mới tạo được mối quan hệ thấu cảm với, tiền đề cho quá trình tham vấn hiệu quả diễn ra.
Freud cho rằng dù các cơ chế phòng vệ diễn ra trong hành vi bình thường của con người thì chúng cũng ngăn trở khả năng của con người ứng phó với việc giải quyết các vấn đề vô thức. Vì thế NTV phải biết những cách thức trong đó các cơ chế này ngăn trở thân chủ ứng phó trực tiếp với các vấn đề của mình để phá bỏ chúng, tạo điều kiện cho tiến trình thay đổi và trưởng thành của TC có thể diễn ra.
Đặc trưng của phương pháp tiếp cận phân tâm là tham vấn bằng đàm thoại – trò chuyện. Phương pháp tiếp cận phân tâm coi vấn đề của thân chủ phát sinh do những căng thẳng tâm lý giữa những ham muốn vô thức hướng tới những hành động nào đó và những điều ép buộc trong hoàn cảnh sống của cá nhân trong quá khứ dồn nén lại. Freud đã nhiều lần khẳng định rằng người ta mắc bệnh là do những xung đột giữa những yêu cầu của cuộc sống bản năng với sự chống cự xuất hiện bên trong con người chống lại yêu cầu đó. Mục đích của phương pháp tiếp cận phân tâm là giúp con người tìm lại những cội rễ vô thức của các vấn đề  của mình nảy sinh những xung đột bị dồn nén, bằng cách là sau khi giải phóng những cảm xúc có liên quan, bản thân con người sẽ cấu trúc lại nhân cách của mình trên những cơ sở mới. Điều này cũng bao hàm việc loại trừ các triệu chứng tâm bệnh.
Nhiệm vụ của NTV là hiểu được bằng cách nào TC đã sử dụng quá trình dồn nén để giải quyết chế ngự xung đột; biết lắng nghe TC để phát hiện nguyên nhân gì dẫn đến sự mất hài hoà; giúp TC chuyển những ý nghĩ bị dồn nén từ bình diện vô thức vào ý thức để đạt được sự thấu hiểu bên trong mối liên quan giữa triệu chứng hiện tại và những xung đột bị dồn nén trước đó; tạo lập được mối liên hệ tình cảm sâu sắc cảm thông với TC, giúp TC tái thiết lập ký ức bị dồn nén lâu ngày, từ từ trải nghiệm lại các cảm giác căng thẳng hay đau đớn, hướng TC tới một giải pháp có hiệu quả.
Liên tưởng tự do
 Để thực hiện được những mục đích và nhiệm vụ nêu trên, NTV phải sử dụng một số các kỹ thuật tham vấn như sau:
- Sự thấu cảm: Đây là một kỹ thuật quan trọng nhưng hiếm khi được đưa ra thảo luận của phân tâm học. Thấu cảm và biết lắng nghe cho phép NTV xây dựng một mối liên hệ thân thiết với TC mà vẫn có khoảng cách nhất định. Chúng cũng cho phép NTV thiết lập mối quan hệ chuyển dịch.
- Liên tưởng tự do: Là kỹ thuật sử dụng nhằm khám phá vô thức và giải phóng những điều bị dồn nén. TC ngồi hoặc nằm trong tư thế thoải mái, toàn thân thư giãn để ý nghĩ của mình xuất hiện tự do và họ kể lại những suy nghĩ vừa diễn ra, kể lại những mong muốn và những cảm giác về thể chất hoặc hình ảnh tâm trí khi những điều đó hiện về. Thân chủ được khuyến khích thổ lộ mọi ý nghĩ hoặc cảm giác không e ngại động chạm đến những chuyện riêng tư, dù đó là chuyện đau khổ hay có và không quan trọng. Liên tưởng tự do cho phép TC tự do bày tỏ những ước muốn vô thức và những kỷ niệm đau buồn, điều này giúp cho NTV hiểu được những mẫu hình các mối quan hệ của TC trong quá khứ và biết cách chúng đã uốn nắn sự phát triển nhân cách của TC như thế nào.
Sigmund Freud khẳng định liên tưởng tự do là hiện tượng “tiền định”, không phải ngẫu nhiên. Công việc của NTV là “kiên trì lắng nghe tất cả những điều TC bộc lộ rồi làm theo những liên tưởng này tìm đến cội nguồn của chúng”. NTV phải nhạy cảm để có thể nhận  diện ra những uẩn khúc tâm lý đáng kể được che dấu dưới các cảm xúc hay lời nói, cử chỉ của TC
TC được khuyến khích biểu lộ những cảm giác mạnh (thông thường hướng tới những người có quyền lực) bị dồn nén vì sợ bị phạt hoặc sợ bị trả thù. Bất cứ một sự bộc lộ hay giải thoát xúc cảm nào trong quá trình này hay quá trình khác đều được xem như là sự “xả trừ” (cathass) hay giải toả.
Kĩ thuật tham vấn này khích lệ TC dám đương đầu và trò chuyện cởi mở về những cảm xúc bị dồn nén mạnh để thiết lập lại cảm xúc lành mạnh, nhờ đó có thể khỏi bệnh.
- Lý giải hành vi của sự chống đối: Thỉnh thoảng trong qua trình liên tưởng tự do, TC sẽ bộc lộ sự chống đối. Sự chống đối ngăn cản không cho những xung đột bị dồn nén trong vô thức quay trở lại ý thức, thường liên quan đến cảm giác khoái cảm về tình dục của cá nhân; cảm giác thù địch phẫn uất đối với bố mẹ. TC có thể biểu thị sự chống đối bằng nhiều cách như đến trễ hoặc quên buổi tham vấn; có khi điều bị dồn nén xuất hiện trong quá trình tham vấn thì TC có thể phàn nàn rằng điều này không quan trọng, vô lý, không thích hợp hoặc không thoải mái để bàn luận. NTV cần nhạy cảm với những vấn đề chống đối, tập trung chú ý đặc biệt vào những vấn đề đả kích sự chống đối ở TC. NTV phải coi những chủ đề mà TC không muốn thảo luận có tầm quan trọng đặc biệt. Mục tiêu của NTV là phá vỡ sự chống đối và giúp TC đối mặt với những ý nghĩ, mong muốn và kinh nghiệm đau khổ này. Đây là một quá trình khó khăn và lâu dài nhưng rất quan trọng để những vướng mắc này có thể được giải quyết.
Freud tin rằng TC sẽ phát triển những cơ chế phòng vệ và các biện pháp chống đối khi họ đến gần hơn với vấn đề của mình. Vì thế sự chống đối là tín hiệu cho NTV rằng vấn đề đã được gia tăng và TC đang cố trốn tránh. Những sự chống đối như vậy phải được giải thích một cách cẩn thận cho TC và những dồn nén phải được tìm hiểu cặn kẽ.
- Phân tích giấc mơ: Sigmund Freud chính thức biến việc phân tích giấc mơ thành một liệu pháp quan trọng của phân tâm học khi ông cho xuất bản cuốn sách “Sự giải thích các giấc mơ” (1900). Theo Freud, giấc mơ có các chức năng chính là bảo vệ giấc ngủ và dùng làm nguồn thoả mãn mong muốn. Giấc mơ là nguồn gốc qan trọng chứa đựng thông tin về những động cơ vô thức của thân chủ. Khi con người ngủ, siêu thức có vẻ yếu đi trong việc kiểm duyệt những xung đột không thể chấp nhận được có nguồn gốc trong vô thức. Vì vậy, những động cơ không thể bộc lộ được trong khi thức lại có thể được biểu hiện trong giấc mơ. NTV có thể sử dụng phương pháp phân tích giấc mơ để hiểu và xử lý những vấn đề của TC. Cũng cần lưu ý rằng một vài động cơ không thể chấp nhận được bởi chính ý thức không thể được bộc lộ một cách công khai, thậm chí cả trong giấc mơ, do vậy theo các cơ chế phòng vệ chúng phải thể hiện dưới hình thức “trá hình” hoặc “tượng trưng”.
Freud tin rằng “giấc mơ là con đường huy hoàng dẫn tới vô thức”. Do đó các nhà tham vấn phải xem xét hai hình thức về nội dung của giấc mơ: nội dung rõ rệt (có thể chiêm nghiệm được) và nội dung tiềm ẩn (mang tính che dấu). Nội dung rõ rệt là điều TC nhớ lại khi thức, nội dung tiềm ẩn bao gồm những động cơ hiện tại đang tìm kiếm sự bộc lộ nhưng làm cho TC quá đau khổ hoặc không thể chấp nhận được hoặc không muốn thừa nhận chúng. NTV cố gắng làm bộc lộ những động cơ bị che dấu này bằng cách sử dụng kỹ thuật giải mộng, xem xét đánh giá nội dung của giấc mơ của TC nhằm phát hiện những động cơ vô thức, tượng trưng hay trá hình và ý nghĩa của những mong muốn và những trải nghiệm quan trọng trong cuộc sống.
- Chuyển dịch và chuyển dịch ngược: Trong quá trình tham vấn theo phương pháp phân tâm, TC luôn luôn xuất hiện những phản ứng xúc cảm đối với NTV. NTV thường được đồng nhất với người nào đó là trung tâm của những xung đột xúc cảm trong quá khứ (thường là cha mẹ hoặc người tình). Phản ứng xúc cảm này là sự chuyển dịch. Chuyển dịch tích cực xảy ra khi TC có những tình cảm như thù địch hoặc đố kị hướng đến NTV. Chuyển dịch tích cực xảy ra khi cảm giác liên hệ với NTV là những tình cảm yêu thương và sự kính phục. Nhiều khi ở TC có cả hai loại xúc cảm này.
Công việc của NTV trong khi điều chỉnh chuyển dịch rất khó khăn và có thể nguy hiểm do tính dễ bị tổn thương về xúc cảm của TC. Tuy nhiên đây là phần công việc quyết định của NTV giúp TC "phiên dịch" những tình cảm chuyển dịch hiện có bằng cách tìm hiểu nguồn gốc, xuất xứ của chúng ở những trải nghiệm thơ ấu.
Chuyển dịch ngược liên quan đến cái gì xảy ra khi NTV thích hay không thích TC. Thông qua chuyển dịch ngược, NTV phát hiện những động cơ vô thức của mình. Do những cảm xúc tương tác qua lại trong tham vấn và tính dễ bị tổn thương của thân chủ, NTV phải cảnh giác để không bước qua ranh giới giữa công việc của nhà chuyên môn và những vấn đề riêng tư, cá nhân của TC. Đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi NTV không được can thiệp quá sâu vào những vấn đề riêng tư của thân chủ thì mới tạo lập được mối quan hệ trợ giúp có hiệu quả giữa NTV và TC.
Mối quan hệ tham vấn của phân tâm học truyền thống là một tiến trình lâu dài và sâu sắc trong đó TC có thể gặp NTV ba hoặc nhiều lần một tuần trong năm hoặc hơn nữa. Trong nỗ lực xây dựng mối quan hệ chuyển dịch, NTV giữ một khoảng cách nhất định với TC. Trái lại, sự đồng cảm và những kĩ năng lắng nghe là cần thiết để bắt đầu quá trình tham vấn, sự diễn giải và phân tích trở thành những kỹ thuật chủ chốt sau đó trong mối quan hệ tham vấn. Khi quá trình tham vấn tiếp tục và khi những vấn đề được giải quyết, NTV sẽ bắt đầu được TC xem xét trong những hành vi chủ động và thực tế hơn. Cuối quá trình trị liệu, khi những dồn nén trở nên ít quan trọng hơn, NTV có thể cảm thấy tự do để bày tỏ những khía cạnh nhỏ của bản thân. Sau cùng, mối quan hệ tham vấn kết thúc khi TC đã đạt được sự hiểu biết và sự nhận thức những động cơ ẩn dấu, biết cách làm thế nào để động cơ này biểu hiện qua những mẫu hành vi và triệu chứng của họ và khi TC đã tạo ra sự thay đổi dựa trên sự thấu hiểu này.

2 nhận xét:

  1. thanks bài viết rất hay và bổ ích :P

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cảm ơn bạn đã ghé thăm blog ! hy vọng nhận được những góp ý quí báu của mọi người để blog ngày một hoàn thiện hơn :)

      Xóa