Searching...
Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Nguyên tắc cơ bản của tham vấn

1. Cơ sở khoa học của việc xác lập và thực hiện nguyên tắc tham vấn
  Trong quá trình tham vấn nhà tham vấn và thân chủ phải tuân thủ các nguyên tắc tham vấn và mối quan hệ giữa nhà tham vấn với thân chủ.
Nhà tham vấn phải tuân theo những nguyên tắc tham  vấn nhất định vì:
- Các nguyên tắc tham vấn là yếu tố để phân biệt tham vấn như một nghề, khác với tư vấn, cố vấn hoặc các cuộc chuyện trò, giúp đỡ khác.
- Lòng tin là nền tảng của mối quan hệ tham vấn, việc tuân theo các chuẩn mực đạo đức là rất quan trọng nhằm xây dựng và duy trì niềm tin với thân chủ.
- Tham vấn là một nghề giúp đỡ những người gặp phải vấn đề hoặc những rủi ro, bất ổn trong cuộc sống, việc không tuân thủ các chuẩn mực đạo đức không những không giúp được thân chủ mà có thể còn làm phương hại đối với thân chủ. Nhà tham vấn ở một mức độ nhất định có quyền lực trong quan hệ tham vấn, việc lạm dụng quyền lực là trái với đạo đức. Khi hành nghề, ngoài các đòi hỏi về năng lực, phẩm chất nhà tham vấn phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp.
2. Các nguyên tắc tham vấn cơ bản
2.1. Giữ bí mật thông tin liên quan đến thân chủ và vấn đề của thân chủ
Đảo bảo tính bí mật là nguyên tắc quan trọng hàng đầu của hoạt động tham vấn tâm lý. Tại sao phải giữ bí mật? Nhà tham vấn có trách nhiệm phải đảm bảo bí mật ở mức độ nào, trường hợp nào? Và có trường hợp nào nhà tham vấn không cần giữ bí mật không? Đó là nội dung nguyên tắc đạo đức trong phần này.
  Quyền được tôn trọng cá nhân
a. Tôn trọng tính cá nhân và riêng tư: Nhà tham vấn tôn trọng quyền được tôn trọng cá nhân và đảm bảo bí mật cho khách hàng, tránh tiết lộ những thông tin không đảm bảo và không hợp pháp.
b. Trường hợp miễn trừ (trường hợp được khách hàng cho phép): Quyền được tôn trọng cá nhân của khách hàng sẽ được miễn trừ khi khách hàng hoặc người đại diện hợp pháp của khách hàng cho phép.
c. Những ngoại lệ: Những đòi hỏi chung đối với nhà tham vấn là phải giữ bí mật cho khách hàng, nhưng trong một số ngoại lệ, đòi hỏi chung về việc giữ bí mật không còn hiệu lực như khách hàng có những dấu hiệu chuẩn bị làm hại bản thân hoặc người khác, hoặc khi pháp luật yêu cầu tiết lộ những thông tin. Nhà tham vấn có thể tham khảo ý kiến của những nhà chuyên môn khi nghi ngờ về tính pháp lý của những trường hợp ngoại lệ phải tiết lộ thông tin.
d. Đối với những khách hàng có bệnh lây truyền hoặc những bệnh nguy hiểm: Nếu nhà tham vấn có đủ thông tin để khẳng định rằng khách hàng của mình có bệnh lây truyền hoặc những bệnh nguy hiểm đến người khác, nhà tham vấn phải xem xét và tiết lộ những thông tin này cho người có quan hệ với khách hàng của mình và khả năng bị lây nhiễm. Trước khi tiết lộ thông tin với đối tượng thứ ba, nhà tham vấn phải chắc chắn rằng khách hàng chưa hề tiết lộ thông tin này với đối tượng thứ ba và cũng không có ý định tiết lộ thông tin trong tương lai.
e. Sự tiết lộ thông tin theo yêu cầu của toà án: Khi toà án yêu cầu phải tiết lộ thông tin của khách hàng nhưng không có sự đồng ý của khách hàng, nhà tham vấn có thể yêu cầu toà án không tiết lộ những thông tin có nguy cơ gây tổn hại đến khách hàng hoặc đến mối quan hệ tham vấn.
f. Tiết lộ thông tin tối thiểu: Trong những trường hợp đòi hỏi nhà tham vấn phải tiết lộ thông tin, nhà tham vấn chỉ tiết lộ những thông tin cơ bản nhất. Nếu có thể, nhà tham vấn cần thông báo trước với khách hàng về việc tiết lộ thông tin của mình.
g. Giải thích về những hạn chế: Ngay trong giai đoạn đầu của quá trình tham vấn và trong cả suốt quá trình sau đó, nếu có thể, nhà tham vấn cần thông báo cho khách hàng biết về những hạn chế về việc đảm bảo tính bí mật và xác định những tình huống có thể dự đoán được về việc tiết lộ thông tin.
h. Những người có liên quan: Nhà tham vấn phải nỗ lực hết sức trong việc đảm bảo tính bí mật của khách hàng đối với những người có liên quan như đồng nghiệp, giám sát, trợ lý, và những người tình nguyện làm việc.
i. Những người trong nhóm làm việc: Nếu việc chữa trị của khách hàng đòi hỏi phải được xem xét, bàn bạc bởi một nhóm làm việc, nhà tham vấn phải thông báo cho khách hàng biết về sự tồn tại của nhóm làm việc cũng như thành phần tham dự của nhóm.
  Đảm bảo bí mật trong khi làm việc với nhóm và với gia đình.
a. Làm việc với nhóm: Khi làm việc với nhóm, nhà tham vấn phải xác định rất rõ về tính đảm bảo bí mật và những giới hạn của nó. Nhà tham vấn phải giải thích về tầm quan trọng của việc đảm bảo bí mật trong nhóm và thảo luận về những khó khăn trong việc duy trì tính bí mật trong khi làm việc nhóm. Thực tế cho thấy, tính đảm bảo bí mật khó có thể được đảm bảo khi có sự giao tiếp giữa những thành viên trong nhóm.
b. Tham vấn gia đình: Khi làm việc với gia đình, thông tin về một thành viên trong gia đình không được tiết lộ cho thành viên khác trong gia đình khi không được sự đồng ý của thành viên đó. Nhà tham vấn phải đảm bảo tôn trọng tính riêng tư và cá nhân của mỗi thành viên trong gia đình.
  Đối với khách hàng là người nhỏ tuổi hay người không có khả năng đưa ra thông tin thoả thuận: Khi nhà tham vấn làm việc với trẻ nhỏ hay những khách hàng không có khả năng đưa ra thông tin thoả thuận, việc tham gia của cha mẹ hay người bảo vệ hợp pháp trong quá trình tham vấn là cần thiết. Nhà tham vấn hành động dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền lợi cao nhất của khách hàng và đảm bảo tính bí mật được tôn trọng.
  Về việc ghi chép và lưu giữ:
a. Sự cần thiết phải ghi chép: Nhà tham vấn phải lưu giữ lại những thông tin ghi chép về khách hàng nhằm phục vụ cho mục đích cung cấp dịch vụ tham vấn cũng như trong trường hợp có sự đòi hỏi của pháp luật, theo những quy định của cơ sở làm việc.
b. Tính bí mật của thông tin ghi chép: Nhà tham vấn phải có trách nhiệm đảm bảo tính an toàn và bí mật của những thông tin mà mình đã ghi chép, đã lưu giữ, chuyển sang cho người khác, hay phá huỷ những thông tin ở dạng viết tay, ghi âm, máy tính, hay lưu giữ ở bất cứ hình thức nào.
c. Cho phép ghi chép và quan sát: Trước khi tiến hành ghi chép và quan sát, nhà tham vấn phải xin phép khách hàng.
d. Khách hàng tiếp cận thông tin ghi chép và lưu giữ: Nhà tham vấn cần phải nhận ra rằng, việc ghi chép và lưu giữ thông tin là vì lợi ích của khách hàng. Vì vậy, khi những khách hàng có đủ năng lực hành vi yêu cầu, nhà tham vấn phải để khách hàng tiếp cận với những thông tin đã ghi chép dưới dạng bản gốc hay copy, trừ những trường hợp thông tin có thể gây ra sự hiểu nhầm của khách hàng hay những thông tin có ảnh hưởng xấu đến khách hàng. Trong trường hợp khách hàng không phải là một người, việc tiếp cận thông tin chỉ dành cho từng người trong phần ghi chép về mình chứ không được xem bản ghi chép về người khác nếu chưa có sự đồng ý.
e. Sự chia sẻ hay chuyển đổi: Nhà tham vấn phải xin phép bằng văn bản trong việc chia sẻ những thông tin hay chuyển đổi những thông tin bí mật (trừ những trường hợp đã được liệt kê trong mục I. Nhà tham vấn phải từng bước đảm bảo rằng việc nhận được những thông tin ghi chép trong quá trình tham vấn là một phần rất nhạy cảm trong việc lưu giữ thông tin bí mật khách hàng.
2.2. Tôn trọng thân chủ
Theo các chuyên gia Mỹ, tôn trọng thân chủ thể hiện thông qua một số luận điểm sau:
- Luận điểm 1: Quyền được thừa nhận
Mỗi người có một giá trị nhất định và có quyền phát triển giá trị đó theo cách của họ, cũng như việc họ không được vi phạm vào quyền này của ngời khác trong quá trình phát triển của mình.
- Luận điểm 2: Tôn trọng năng lực và giá trị
Mỗi người đều có những năng lực, khả năng riêng và có giá trị nhất định được tôn trọng như 1 con người.
- Luận điểm 3: Có trách nhiệm với những lựa chọn của mình
Tôn trọng họ, không phán xét họ, chấp nhận những quan điểm của họ (theo thang giá trị của họ).
Tôn trọng thân chủ thể hiện:
+ Thân chủ có quyền trình bày các suy nghĩ, cảm xúc của mình.
+ Đừng ép thân chủ lệ thuộc vào mình, để cho họ tự quyết định.
2.3. Tin tưởng vào khả năng giải quyết và ra quyết định thực hiện của thân chủ
Nhà tham vấn cần phải có cái nhìn tích cực, tin tưởng rằng thân chủ có khả năng giải quyết vấn đề của chính họ, từ đó phải mạnh dạn trao quyền tự quyềt, giao việc cho họ, khích lệ họ và trợ giúp họ để thực hiện công việc được giao.
2.4. Thân chủ trọng tâm – thân chủ và vấn đề của thân chủ là trung tâm của quá trình tham vấn
Nguyên tắc này thể hiện trong quá trình tham vấn phải xác định được rằng thân chủ và vấn đề của thân chủ là trung tâm. Do đó, nhà tham vấn không được áp đặt kinh nghiệm chủ quan của mình lên thân chủ, không đưa ra lời khuyên, không làm hộ, làm thay thân chủ mà phải trao quyền tự quyết cho thân chủ và bằng các biện pháp hỗ trợ, nhằm tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề của thân chủ.
2.5. Hướng tới hiệu quả của việc giải quyết vấn đề, không lấy lợi ích của nhà tham vấn làm mục tiêu của quá trình tham vấn
2.6. Không áp đặt kinh nghiệm của nhà tham vấn lên vấn đề của thân chủ
Nguyên tắc này thể  hiện, nhà tham vấn trong quá trình tham vấn cho thân chủ tránh đưa ra lời khuyên, tránh áp đặt những suy nghĩ, quyết định của mình với đối tượng.
- Không phê phán thân chủ ngay cả khi thân chủ có những hành vi, cách nhìn nhận không phù hợp. Sự phê phán sẽ làm cho thân chủ thu mình, không dám chia sẻ và hợp tác.
2.7. Có quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm toàn diện, phát triển trong cách nhìn nhận, giải quyết vấn đề của thân chủ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
Back to top!