Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Phương pháp tiếp cận ứng xử (hành vi) và vận dụng vào thực hành tham vấn

   Nếu như phương pháp tiếp cận nội tâm nhằm giúp cho TC tìm ra nguyên nhân các vấn đề của mình hoặc lý do ngăn cản họ tìm ra được các giải pháp dù là trên bình diện cá nhân hay trên bình diện xã hội với giả định là khi tình huống đã được làm sáng tỏ, TC có thể tự tiến hành những việc khiến cho mình tiến bộ và do đó làm biến mất những ứng xử không thích nghi thì phương pháp tiếp cận ứng xử lại xuất phát từ nguyên lý cho rằng rối nhiễu  tâm lý chỉ là do sự hiện diện của một hành vi không thích ứng được TC, những người xung quanh hoặc NTV xác định như vậy. Những NTV thực hành tham vấn về sự thay đổi ứng xử cho rằng bằng cách tác động trực tiếp lên ứng xử lệch lạc của TC để làm mất đi hay sửa chữa nó, người ta sẽ làm biến mất vấn đề một cách tự động. Phương pháp này áp dụng những nguyên tắc điều kiện hoá
và sự củng cố để biến đổi những mẫu ứng xử không mong muốn phối hợp những rối nhiễu tâm lý. Nó được dùng để sửa chữa tích cực những ứng xử bất thường và những vấn đề cá nhân, bao gồm sự sợ hãi, sự thúc ép, trầm cảm, nghiện ma tuý, tấn công và những hành vi tội phạm. Đây là phương pháp tham vấn tốt nhất với những rối nhiễu tâm lý đặc trưng hơn là những rối nhiễu chung chung của thân chủ.
   - Phương pháp tiếp cận ứng xử đã tồn tại rất lâu đời trong lịch sử loài người. Ngay từ thời cổ đại, Hypocrate đã sử dụng liệu pháp hồi cảm tràn ngập để điều trị ám ảnh sợ. Nhưng nó chỉ chính thức trở thành một phương pháp tiếp cận TC độc lập từ đầu thế kỷ XX, đánh dấu bằng sự ra đời của học thuyết điều kiện hoá kinh điển của Ivan Pavlov; điều kiện hoá thao tác của E.Thorndike và việc phát triển hai học thuyết này thành TLH. hành vi cổ điển (John B. Watson) và TLH hành vi mới (B.F Skinner , A.Bardura).
   Ivan Pavlov (1848 - 1936) qua thực nghiệm với con chó đói đã chứng minh học thuyết điều kiện hoá kinh điển. Điều kiện hoá kinh điển là một hình thức của học tập, trong đó một kích thích trung gian (kích thích không tạo ra phản ứng) đi cặp đôi với một kích thích có điều kiện (kích thích có tạo ra phản ứng) liên tục sau một thời gian thì chỉ mình kích thích trung gian cũng gây ra một đáp ứng và lúc này đáp ứng mang tính có điều kiện. Ông cũng đã đề xuất các nguyên tắc điều trị những rối nhiễu tâm lý ở người. Nhưng ứng dụng thành công những nghiên cứu của ông trong điều trị tâm lý là J.B.Watson, cha đẻ của TLH hành vi cổ điển. Watson nhấn mạnh đến những hành vi được nghiên cứu một cách khách quan (những kích thích, đáp ứng, củng cố được quan sát một cách trực tiếp ), bác bỏ các khái niệm  như ý thức, suy nghĩ, tưởng tượng.
B.F.Skinner
B.F. Skinner (1904-1990, Trường đại học Columbia) Mỹ đã độc lập nghiên cứu với Pavlov và tìm ra thuyết điều kiện hoá thao tác. Điều kiện hoá thao tác liên quan đến sự tăng hoặc giảm hành vi nào đó bằng cách thay đổi một cách có hệ thống hiệu quả của hành vi đó.  Đây là nền tảng của phương pháp thưởng quy đổi của Ayllon và Azrin; phương pháp giải cảm có hệ thống của J.wolpe - đại diện cho hành vi mới.
A.Bandura
 A. Bandura đã phát triển lý thuyết tập nhiễm xã hội bao hàm cả nguyên tắc điều kiện hoá kinh điển, điều kiện hoá thao tác và nguyên tắc học qua quan sát, nhấn mạnh vai trò của nhận thức trong điều chỉnh hành vi.
   Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày các ý tưởng của phương pháp tiếp cận hành vi và hai phương pháp tiếp cận TC được nhắc đến nhiều trong tham vấn là  phương pháp đa mẫu hành vi của Arnold Lazarus và Phép tham vấn hiện thực của William Glasser.
   Theo mô hình hành vi, mỗi người được xác định bởi một tập hợp những hành vi của người đó. Các nhà TLH hành vi quan niệm rằng “bất kỳ cái gì  một người làm là hành vi, còn cái gì một người có là  nét tính cách”. Các NTV hành vi thường tập trung nghiên cứu đánh giá hành vi của TC, những TC đến gặp các NTV thường mô tả họ và những rối nhiễu tâm lý của họ dưới dạng những nét tính cách. Chẳng hạn “trước đây tôi là người vui tính, thích giao tiếp... nhưng gần đây tôi cảm thấy mệt mỏi, buồn chán hay lo lắng mất khả năng tập trung...”. Vì vậy nhiệm vụ của NTV là phải chuyển những nét tính cách này thành hành vi. Điều này liên quan đến việc nhận dạng những hành vi cụ thể nào đó minh hoạ rõ nhất những thuộc tính vừa kể.
   Hành vi có hai phạm trù: hành vi biểu hiện ra bên ngoài và hành vi diễn ra bên trong. Hành vi bộc lộ ra bên ngoài là những gì chúng ta làm người khác có thể quan sát trực tiếp được (Ví dụ: ăn, chơi, nói, cười, viết,...). Hành vi diễn ra bên trong đầu là những gì chúng ta làm mà người khác không thể quan sát trực tiếp được (Ví dụ: suy nghĩ tưởng tượng, nghi nhớ, suy đoán, tình cảm,...) nhưng có thể nhận biết thông qua suy luận.
   Các NTV hành vi đã sử dụng mô hình ABC (viết tắt các từ Anticedents - tác nhân kích thích; Behaviors - hành vi; Consequesces - Hậu quả, kết quả) để mô tả quá trình liên tiếp, hiện thời của những tác nhân kích thích thúc đẩy hành vi xã hội và hiệu quả sau khi hành vi được trình diễn:
A B C


Tạo điều kiện cần  và đủ                    Xác định liệu hành vi                            Hậu quả, kết quả 
                                                           được thực hiện hay không

              A                                 B                                                      Dẫn đến                     C

                                                           Xác định hành vi
                                                          Có xảy ra lại hay không

(A). Tác nhân kích thích ban đầu là những sự kiện xảy ra hoặc có mặt trước khi hành vi (B) diễn ra, chúng tạo ra những điều kiện cần và đủ cho hành vi xảy ra.
(C). Hậu quả là những sự kiện xảy ra sau và như là kết quả của một việc thực hiện hành vi. Hậu quả có thể xảy ra ngay hoặc một thời gian sau mới xảy ra và ảnh hưởng đến khả năng xuất hiện lại của hành vi này trong tương lai. Mặc dù có rất nhiều sự kiện xảy ra trước và theo sau mọi hành vi nhưng chỉ có một số rất ít có ảnh hưởng đáng kể trực tiếp như là những nhân tố đang duy trì sự có mặt của hành vi. Hơn nữa tác nhân kích thích khởi đầu và hậu quả duy trì sự có mặt của hành vi theo những cách khác nhau. Hậu quả thực tế của một hành vi có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, liệu hành vi đó có xảy ra nữa hay không ? Hậu quả mong muốn cũng có thể là kích thích khởi động ảnh hưởng đến việc liệu một người sẽ “cam kết” thực hiện hành vi vào lúc đó. Dự đoán về hậu quả có thể có cũng là một nhân tố xác định liệu những điều kiện “cần và đủ” này có đúng cho việc thực hiện hành vi hay không.
   Mục tiêu của tham vấn hành vi là can thiệp tích cực để làm giảm hay loại bỏ những rối nhiễu bằng cách thay đổi những điều kiện duy trì hành vi rối nhiễu, tức là tìm cách loại bỏ tác nhân kích thích A và điều chỉnh hiệu quả (để nó không đóng vai trò là cái củng cố cho hành vi sẽ xảy ra trong tương lai) giúp người bệnh giải quyết được những vấn đề rối nhiễu tâm lý của họ.

Quá trình tham vấn hành vi gồm 5 bước:
   Bước 1: Xây dựng mối quan hệ: Trong suốt quá trình này mục tiêu chính của NTV là phải xây dựng được một mối quan hệ lành mạnh với TC và bắt đầu xác định một cách rõ ràng những mục tiêu của tham vấn. Việc xác định mối quan hệ có thể được thực hiện bằng nhiều cách. Những NTV hành vi không thường sử dụng kĩ năng thấu cảm và lắng nghe, bày tỏ sự quan tâm và tôn trọng, thảo luận ngoài lề để xây dựng niềm tin và trở nên thân thiện với TC. NTV xây dựng một mối quan hệ hợp tác với TC và bắt đầu khám phá những vấn đề trọng tâm mà TC muốn chú ý.
   Bước 2: Nhận diện vấn đề và đặt mục tiêu: Khi những vấn đề được xác định, một nỗ lực cộng tác giữa NTV và TC sẽ diễn ra giúp xác định những hành vi đặc trưng mà TC muốn chú ý. ở bước này, điều đặc biệt quan trọng là NTV đạt được những thông tin chính xác để xác định vấn đề của TC. NTV vì thế phải đảm bảo những thông tin nền tảng đầy đủ về TC và đặt những câu hỏi kiểm tra để bộc lộ sự thực tự nhiên của vấn đề. Một sự chẩn đoán sai vấn đề sẽ dẫn đến sử dụng sau các kỹ thuật tham vấn. Mỗi lần vấn đề được xác định một cách rõ ràng thì bản thân nó đã trợ giúp NTV và TC thấu hiểu một cách đầy đủ sự mở rộng của vấn đề, từ đó TC trong sự cộng tác với NTV, có thể bắt đầu quyết định những vấn đề nào họ muốn tập trung và đặt ra một vài mục tiêu thử nghiệm.
   Bước 3: Lựa chọn các kỹ thuật: Dựa vào thuyết điều kiện hoá kinh điển, điều kiện hoá thao thác, thuyết tập nhiễm xã hội, NTV có một số lượng lớn các kỹ thuật để trợ giúp TC trong quá trình tham vấn thông qua tiến trình thay đổi. ở  bước này, NTV phải lựa chọn kỹ thuật sát với mục tiêu đã đặt ra ở bước 2.
   Bước 4: Lượng giá sự thành công: Quá trình tham vấn được coi là thành công khi có sự giảm thiểu những hành vi bất thường và mạnh mẽ, kéo dài và thường xuyên ở TC. Nếu không đạt được điều này, NTV phải xác định lại vấn đề và các kỹ thuật. Nếu vấn đề được chẩn đoán một cách chính xác về nguồn gốc và lựa chọn những kỹ thuật thích hợp thì TC sẽ bắt đầu thấy được sự cải thiện của vấn đề.
   Bước 5: Kết thúc tham vấn và theo dõi: Lý thuyết về sự củng cố gợi ý rằng sự mất đi của phần lớn hành vi sẽ luôn luôn được diễn ra bởi một sự nảy sinh của những hành vi có mục đích. Vì thế, điều quan trọng là NTV phải duy trì liên lạc với TC trong một khoảng thời gian cần thiết để bảo đảm thành công của quá trình tham vấn, chuẩn bị cho TC tâm thế và khả năng tự điều chỉnh sau khi quá trình tham vấn kết thúc. NTV phải theo dõi xem những thay đổi hành vi có được duy trì trong cuộc sống hàng ngày của TC không, TC có khả năng ứng phó với những biến thể của rối nhiễu trong tương lai hay không. Nếu những điều đó xảy ra, có thể coi quá trình tham vấn đã thành công và mới có thể thực sự được kết thúc.
Bởi vì nỗ lực của NTV là có được sự phân tích cụ thể vấn đề và sự lựa chọn kỹ thuật tập trung vào những lĩnh vực đặc trưng nên rất hữu ích nếu NTV có một số lượng lớn những kỹ thuật tham vấn trong tay.
Phương pháp tiếp cận ứng xử có một số kỹ thuật phổ biến sau:
   + Hành vi mẫu: NTV đặt ra những mẫu hành vi có thể quan sát được và yêu cầu TC luyện tập trước tiên ở phòng tham vấn và sau đó là tự luyện tập. Những hành vi như kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, thấu cảm, cách ăn uống, kỹ năng học tập của TC…chỉ là một số ít của một số lượng lớn hành vi được TC quan sát và luyện tập. Những kỹ năng này, phần lớn thường được giảng giải, thực hành trực tiếp trong quá trình tham vấn. Chúng thường được diễn tả trong một nhóm định sẵn và TC được quan sát và luyện tập thông qua việc đóng vai trong suốt quá trình tham vấn.
   + Sử dụng kỹ thuật điều kiện hoá thao tác: Sau khi theo dõi sự hình thành của những vấn đề cơ bản, NTV làm việc với TC để bắt đầu dập tắt những hành vi không mong muốn. Việc dập tắt một cách đội ngột hành vi nào đó là rất khó khăn. Do vậy, quá trình dập tắt từ từ bằng cách củng cố tích cực những hành vi mới phải được thiết lập thường xuyên. Củng cố tích cực tức là nhằm làm tăng cường độ hoặc tần số xuất hiện của một hành vi nào đó kèm theo yếu tố củng cố (khen thưởng) khi đáp ứng được TC tiến hành ngay lập tức. NTV khen thưởng TC (bằng lời hoặc các hình thức khác) thì phản ứng sẽ có khuynh hướng lặp đi lặp lại và sẽ làm tăng tần số. Kỹ thuật này đặc biệt hữu dụng đối với trẻ em.
   + Sử dụng các bài tập thư giãn và giảm cảm ứng có hệ thống: Kỹ thuật sử dụng phương thức thư giãn được phát triển bởi Jacobson (1938) dùng để hướng dẫn cho những TC đang trải nghiệm sự lo lắng và sợ hãi. Trong phương pháp này, TC được thư giãn một cách nhanh chóng bằng việc căng, chùng những nhóm cơ chính của cơ thể.Thực hành thư giãn giúp cho TC có năng lực kiểm soát các trạng thái xúc cảm, nhờ đó có thể đương đầu có hiệu quả với các rối nhiễu tâm lý. Nó cũng được coi là một bộ phận của kỹ thuật giải mẫn cảm có hệ thống do Joseph Wolpe (1958) đưa ra. Kỹ thuật này được dùng để hoá giải những rối nhiễu tâm lý kiểu ám sợ, lo hãi và được thừa nhận là một trong những phương pháp hoá giải lo hãi có hiệu, dễ sử dụng và dễ thành công, gồm các bước sau:
1. NTV yêu cầu TC nhắm mắt lại để thư giãn, sau đó tưởng tượng ra một loại các kích thích gây sợ  theo một trật tự từ yếu đến mạnh.
2. NTV hướng dẫn TC tiến hành các bài tập thư giãn để đưa TC vào trạng thái thư giãn toàn thân.
3. Trong trạng thái thư giãn, NTV yêu cầu TC tưởng tượng một cách sinh động lần lượt những kích thích gây lo âu đã liệt kê từ mức yếu nhất đến cơ thể quen dần. Nếu kích thích được quen dần không gây những khó chịu thì chuyển lên một kích thích mạnh hơn. Nếu thấy ở TC xuất hiện cảm giác lo âu - khó chịu thì dừng lại, tập trung thư giãn để có thể tiếp tục thích ứng. Cứ như vậy đến nấc thang gây sợ cao nhất.
   + Kỹ thuật kiểm soát bản thân: Gần đây việc NTV hướng dẫn TC những kỹ thuật hành vi khác nhau và để họ tự phát triển và luyện tập những hành vi mới đã trở nên phổ biến. Trong quá trình này điều thiết yếu đối với TC là lựa chọn những mục tiêu và chiến lược chính xác và có thể đạt được, hiểu một các rõ ràng những kỹ thuật hành vi khác nhau và cạm bẫy kèm theo để thực hiện việc nhận diện lại cả quá trình nếu không thành công cũng như để tiếp tục chinh phục mục tiêu, lập kế hoạch cho tương lai và lường trước những thất bại có thể có.
   + Kỹ thuật tràn ngập và chìm ngập: Hai kỹ thuật này cũng được dùng để hoá giải những rối nhiễu tâm lý như lo hãi, ám sợ. Kỹ thuật tràn ngập đối lập với kỹ thuật giải mẫn cảm có hệ thống. Tại thời điểm bắt đầu của kỹ thuật tràn ngập được thể hiện bằng một kích thích gây sợ hãi nhất ngay cực trên của bậc thang lo âu, những phải  trong môi trường an toàn. TC trong trại thái thư giãn hoàn toàn, tự tưởng tượng một tình huống gây sợ hãi nhất hoặc nghe một cuốn băng mô tả chi tiết tình huống đó. ý nghĩa của phương pháp này là TC không được phép né tránh những tình huống kích thích gây sợ hãi mà ngược lại đối mặt tiếp cận với những kích thích này. Đây cũng là thời điểm giúp TC khám phá ra rằng tiếp cận với những kích thích hiện tại không có những hiệu quả âm tính như mình nghĩ trước đây. Việc xuất hiện lặp đi lặp lại kích thích gây sợ khiến cho nó mất dần sức mạnh tạo ra lo âu của nó. Khi lo âu xảy ra không dài lắm hoặc không xảy ra sẽ làm cho Stress giảm xuống hoặc mất đi.
   Kỹ thuật chìm  ngập cũng tương tự như kỹ thuật tràn ngập, ngoại trừ TC đống ý tiếp xúc trực tiếp với hoàn cảnh có thực, đòi hỏi TC trải nghiệm tiếp xúc với những điều kiện có thực. TC được kích thích tưởng tượng, chẳng hạn xem một cuốn phim hoặc nghe một đoạn băng mô tả chi tiết tình huống gây sợ (điều này có thể không giống như sợ hãi mà họ vừa tưởng tượng). Kỹ thuật này đã được xác nhận là có hiệu lực hơn kỹ thuật giải mẫn cảm có hệ thống và trong tham vấn stress có liên quan đến rối nhiễu tâm lý như ám sợ ma, ám sợ khoảng trống...
Việc sử dụng những kỹ thuật này đòi hỏi NTV phải có trình độ cao, đạt tới trình độ tham vấn - trị liệu chuyên nghiệp.

   Tham vấn theo phương pháp tiếp cận ứng xử nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ chắc chắn và quan tâm giữa NTV và TC. Điều này cho phép xây dựng niềm tin trong mối quan hệ thân thiện và NTV có đủ khả năng, có cơ hội lớn hơn để xác định vấn đề của TC. Ngoài ra, điều quan trọng đối với NTV là phải cộng tác trực tiếp với TC trong vấn đề và các kỹ thuật để có thể xác định vấn đề của TC một cách tốt nhất. NTV cũng phải hoạt động như một nhà khoa học có mục đích trợ giúp TC xác định tính thường trực, kéo dài, mạnh mẽ của hành vi cần được thay đổi và giúp TC nhận diện quá trình từ cái nhìn có mục đích. Từ đó, TC kinh nghiệm thấy ở NTV một con người quan tâm, đầy nhân ái, người có thể lắng nghe tích cực, nhận diện vấn đề và hướng dẫn cho họ về kỹ thuật để đạt tới những mục tiêu của tham vấn.
Tham vấn theo phương pháp tiếp cận hành vi là một phương pháp tiếp cận mang tính khoa học, tập trung vào hiện tại, mang tính hành động, diễn ra trong đời sống thực, sử dụng cách tiếp cận tổng hợp dựa trên việc xây dựng mối quan hệ hợp tác, hiểu biết trong quá trình tham vấn.
   Tính khoa học thể hiện ở việc xác định rõ mục tiêu tham vấn đánh giá chính xác thực trạng vấn hợp lý. Tính khoa học còn thể hiện ở các phép đo để lượng hoá trong suốt quá trình tham vấn. Tính khoa học cũng thể hiện ở các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đánh giá tính hiệu quả của các kỹ thuật tham vấn.
   Tham vấn hành vi chú trọng những nguyên nhân, điều kiện hiện tại đang duy trì hành vi không thích nghi hơn là những nguyên nhân ,điều kiện của quá khứ. Do đó, nó sử dụng các kỹ thuật nhằm tác động trực tiếp vào hành vi không thích nghi để biến đổi và điều chỉnh chúng.
   Trong tham vấn hành vi, TC được lôi kéo vào những hoạt động cụ thể để làm giảm thiểu những vấn đề của họ. Tức là TC được hướng dẫn thi hành một số những hoạt động nào đó để kiểm soát những khó khăn của họ (tham vấn bằng hành động hơn là bằng lời nói). Trong tham vấn hành vi, trò chuyện giữa TC và NTV  chủ yếu là trao đổi thông tin, còn các kỹ thuật tham vấn chủ yếu thực hiện thông qua hành động của TC, chẳng hạn TC trong thời gian tham vấn được yêu cầu phải theo dõi, thống kê một số hành vi nào đó của họ trong cuộc sống, phải học và thực hành các kỹ năng ứng phó hoặc phải đóng nhiều vai khác nhau trong các tình huống tham vấn, phải thực hiện nghiêm túc những công việc được giao về nhà…
   Tham vấn hành vi thường diễn ra trong môi trường tự nhiên (môi trường sống thực của TC) nhưng có kiểm soát. Lý do là những vướng mắc, khó khăn hay rối nhiễu của TC phải được điều chỉnh ở nơi nó xảy ra, chứ không phải tại văn phòng NTV. Thực chất của tham vấn hành vi là quá trình giáo dục, trong đó TC học các kỹ năng tự điều chỉnh, phát triển các cách thức ứng xử mới. Phối hợp những kỹ thuật cụ thể để tăng tính hiểu quả của tham vấn.
   Mối quan hệ của tham vấn hành vi giữa NTV và TC là mối quan hệ mang tính hợp tác hiểu biết. TC là người chủ động tham gia một cách có hiểu biết vào quá trình tham vấn. NTV và TC cùng chia sẻ những kiến thức về vấn đề. Ngoài ra, TC được thông tin về thực trạng vấn đề, những tiến triển dự kiến trong quá trình tham vấn. TC thường được huấn luyện các kỹ năng để họ có thể biến quá trình điều chỉnh thành tự điều chỉnh, bắt đầu hay tiếp tục một chương trình tự điều chỉnh tại gia và biết đánh giá kết quả của sự tự điều chỉnh. Cách tiếp cận mang tính tự hướng dẫn, tự kiểm soát này khiến cho TC biết cách giải quyết vấn đề sẽ xảy ra trong tương lai mà không cần sự có mặt của NTV. TC được trang bị “công cụ” để thay đổi và cảm thấy sự tin tưởng hơn vào bản thân mình. Tham vấn theo phương pháp ứng xử nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ chắc chắn và quan tâm giữa NTV và TC. Điều này cho phép xây dựng niềm tin trong mối quan hệ thân thiện và NTV có đủ khả năng, có cơ hội lớn hơn để xác định vấn đề của TC. Ngoài ra, điều quan trọng đối với NTV là phải cộng tác trực tiếp với TC trong vấn đề và các kỹ thuật để có thể xác định vấn đề của TC một cách tốt nhất. NTV cũng phải hoạt động như một nhà khoa học có mục đích trợ giúp TC xác định tính thường trực, kéo dài, mạnh mẽ của hành vi cần được thay đổi và giúp TC nhận diện quá trình từ cái nhìn có mục đích. Từ đó, TC kinh nghiệm thấy ở NTV một con người quan tâm, đầy nhân ái, người có thể lắng nghe tích cực, nhận diện vấn đề và hướng dẫn cho họ về kỹ thuật để đạt tới những mục tiêu của tham vấn.

   Phương pháp tiếp cận ứng xử có thể sử dụng và tiến hành trong thời gian ngắn là thấy ngay kết quả đạt được.
Phương pháp tiếp cận ứng xử trong tham vấn hiện nay đã khắc phục những nhược điểm của chủ nghĩa hành vi cổ điển (chỉ giới hạn chú ý hoàn toàn vào các sự kiện, hành động bên ngoài mà bỏ qua các quá trình bên trong) chú ý vào vai trò của nhận thức, không lảng tránh sử dụng các khái niệm, suy luận, không xem nhẹ đời sống nội tâm của TC, đồng thời cũng sử dụng cả những quan điểm và phương pháp tiếp cận nhân văn vào quá trình tham vấn cho TC. Do đó, tiếp cận nhận thức- hành vi được các NTV ưu tiên sử dụng để trợ giúp cho TC trên thế giới.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét